Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý đảng viên của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

12/10/2026
10

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài. Đọc qua Viettel AI TTS.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” là tư tưởng cốt lõi của Người về nền tảng xây dựng Đảng. Do vậy, công tác quản lý đảng viên là một nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Thực hiện tốt công tác này nhằm góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Quản lý tốt đội ngũ đảng viên để đảng viên phát huy vai trò tiên phong gương mẫu là nèn tảng để cấp ủy, chi bộ lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.

Đồng chí Trần Quang Minh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì, phát biểu tại hội nghị 

I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG

Tuyên Quang là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới nằm ở khu vực Đông Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 13.795,51 km2; quy mô dân số 1.865.270 người, với 124 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 117 xã, 07 phường) và 1.805 thôn, tổ dân phố. Đảng bộ tỉnh được thành lập theo Quyết định số 306-QĐ/TW, ngày 18/6/2025 của Bộ Chính trị. Đến ngày 01/10/2026, Đảng bộ tỉnh có 130 đảng bộ cơ sở trực thuộc Tỉnh ủy (gồm 124 đảng bộ xã, phường; 06 đảng bộ cơ sở trực thuộc Tỉnh ủy, gồm các Đảng bộ: Các cơ quan Đảng tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh, Quân sự tỉnh, Công an tỉnh); có 3.311 tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở (trong đó: 432 đảng bộ, 3.311 chi bộ); 22 đảng bộ bộ phận, 133 chi bộ trực thuộc đảng ủy bộ phận, 1.475 chi bộ trực thuộc đảng ủy trực thuộc cơ sở. Toàn tỉnh có 139.706 đảng viên.

Xác định được tầm quan trọng của việc quản lý đảng viên, trong những năm qua Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các chi, đảng bộ làm tốt công tác quản lý đảng viên, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý đảng viên; đề ra các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp trong công tác quản lý đảng viên. Công tác quản lý đảng viên có nhiều nội dung được các cấp ủy quan tâm thực hiện đồng bộ, thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao năng lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ.

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 và nhiệm kỳ 2025 - 2030, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang và Đảng bộ tỉnh Hà Giang (cũ) luôn được cấp ủy các cấp quan tâm triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ cả về “xây” và “chống” với quyết tâm chính trị cao, Đảng bộ tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện. Kết thực hiện các nội dung về công tác quản lý đảng viên cụ thể như sau.

Một là, đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên đồng thời với việc rà soát, sàng lọc đảng viên ở các tổ chức đảng

Cấp ủy các cấp thực hiện đúng quy trình, thủ tục kết nạp đảng viên, chuyển đảng chính thức, chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên, phát thẻ đảng viên, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định. Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, toàn tỉnh kết nạp được 18.306 đảng viên mới, đạt 6,56% so với tổng số đảng viên (tổng số đảng viên của 2 tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang sau khi sáp nhập 2 tỉnh[1]); trong 9 đầu năm 2026, kết nạp được 3.3539 đảng viên, đạt 85,3% kế hoạch năm[2]. 

Two women standing on a stage

Description generated with very high confidence

Lễ kết nạp đảng viên của Chi bộ thôn Cẳng Tẳng, Đảng bộ xã Lũng Cú (tháng 2/2026)

Cùng với công tác kết nạp đảng viên, cấp ủy các cấp thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng, nhiệm kỳ 2020 - 2025, các tổ chức đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 2.146 đảng viên[3]. Trong 8 tháng đầu năm 2026, khai trừ khỏi đảng 14 người, xóa tên trong danh sách đảng viên 70 người.

Hai là, quản lý tốt về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức và lối sống của đảng viên

Quản lý đảng viên là nền tảng để rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng và đạo đức của từng đảng viên, kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức hoặc hành vi, qua đó uốn nắn, giúp đảng viên có nhận thức đúng đắn, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, quy định, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thị trường sôi động, đa dạng, phong phú, nếu đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng dễ bị suy thoát về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật.

Quản lý đảng viên là nền tảng để xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Do vậy, cấp ủy các cấp, mà thường xuyên, trực tiếp là chi ủy chi bộ nắm bắt toàn diện tình hình tư tưởng, năng lực, đời sống, hoàn cảnh gia đình và các mối quan hệ xã hội của đảng viên, từ đó kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạch để uốn nắn đảng viên sửa chữa, tiến bộ.

Ba là, quản lý việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

- Chi bộ căn cứ trình độ, sở trưởng, năng lực, sức khỏe, tình hình thực tế nhiệm vụ hằng tháng để phân công nhiệm vụ cho đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời chi ủy thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên thực nhiệm vụ được giao, hằng tháng họp chi bộ, kiểm điểm, đánh giá kết quả lãnh đạo của chi bộ, thực hiện tự phê bình và phê bình, qua đó kịp thời phát hiện những đảng viên chưa hoàn thành nhiệm vụ, chi bộ phê bình, nhắc nhở, giúp đỡ đảng viên phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên.

- Cấp ủy nơi đảng viên đang công tác phối hợp chặt chẽ với chi ủy chi bộ nơi đảng viên cư trú trong công tác quản lý ở nơi cư trú[4]. Số đảng viên đang công tác được giới thiệu giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú: Năm 2020 là 48.502 đảng viên, năm 2025 là 56.409 đảng viên. Hằng năm, cấp ủy nơi cư trú nhận xét, đánh giá đúng mức mức độ trách nhiệm đảng viên đang công tác thực hiện nghĩa vụ ở nơi cư trú, đồng thời đề xuất, kiến nghị với cấp ủy nơi đảng công tác biểu dương đảng viên: Năm 2020 có 15.839 đảng viên, năm 2025 có 18.548 đảng viên, đồng thời đề nghị xem xét xử lý đảng viên: Năm 2020 có 11 đảng viên, năm 2025 có 15 đảng viên[5]. 

Bốn là, quản lý hồ sơ và dữ liệu đảng viên

- Hồ sơ đảng viên là tài liệu pháp lý phản ánh toàn diện, đầy đủ, trung thực các thông tin cơ bản về đảng viên, bao gồm: Lịch sử thân, đặc điểm lịch sử, đặc điểm chính trị của bản thân, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh kinh tế, quá trình đào tạo, bồi dưỡng, quá trình công tác, phẩm chất, trình độ, năng lực, quan hệ gia đình của đảng viên, được cập nhật từ khi kết nạp vào Đảng. Do đó, việc quản lý, kiểm soát, bổ sung hồ sơ đảng viên kịp thời là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, chi bộ.

A group of people in a room

Description generated with very high confidence

Ban Xây dựng Đảng xã Bắc Mê tập trung chỉnh lý, số hóa hồ sơ đảng viên của Đảng bộ xã (tháng 8 năm 2026)

- Triển khai phần mềm quản lý đảng viên thống nhất toàn tỉnh, đồng bộ với hệ thống dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức. Ứng dụng công nghệ số, triển khai phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử” và “Điều hành tác nghiệp quản lý đảng viên”. Tính đến tháng 9/2026, toàn tỉnh đã có 81,7% đảng viên đã cài đặt ứng dụng "Sổ tay đảng viên điện tử" thuận tiện cho bí thư chi bộ đã đăng tải tài liệu, văn bản của Trung ương, của tỉnh, của xã và nội dung sinh hoạt chi bộ lên ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử”.

- Về số hóa hồ sơ đảng viên ở Đảng bộ tỉnh, đến ngày 30/9/2026: Tổng số Hồ sơ phải thực hiện: 139.470 hồ sơ; số hồ sơ đã chỉnh lý: 130.654/139.003 hồ sơ đảng viên, đạt 93,99%; số hồ sơ đã số hóa (Scan, ký số): 126.015 hồ sơ; số hồ sơ đã cập nhật lên phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên 4.0: 99.153 hồ sơ, thực hiện cập nhập lên Phần mềm 99.153 hồ sơ và được Phần mềm ghi nhận 81.538 hồ sơ (đạt 58,71%).

Năm là, kiểm điểm, đánh giá, phân loại đảng viên hằng năm

- Thực hiện các văn bản của Trung ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quán triệt và ban hành quy định[6], văn bản hướng dẫn[7] để thực hiện triển khai, quán triệt các văn bản hướng dẫn của Trung ương và cụ thể hóa hướng dẫn của Trung ương cho phù hợp với địa phương. Trước khi thực hiện kiểm điểm, đánh giá xếp loại tổ chức đảng và đảng viên, cấp ủy cấp trên xem xét gợi ý kiểm điểm đối với một số tổ chức đảng và đảng viên có hạn chế, khuyết điểm. 

- Việc kiểm điểm, đánh giá tập thể, cá nhân được thực hiện dân chủ, khách quan, gắn với tu dưỡng, rèn luyện, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, từng bước khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, mất đoàn kết, nể nang, né tránh. Năm 2025, có 121.475 đảng viên được đánh giá, xếp loại, chiếm 90,59% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ tỉnh. Kết quả đánh giá, xếp loại: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 12,31%; hoàn thành tốt nhiệm vụ 96,23%; hoàn thành nhiệm 3,66%; không hoàn thành nhiệm vụ 0,11%. 

Sáu là, quản lý quan hệ công tác và di chuyển sinh hoạt đảng

Chi bộ và cấp ủy các cấp tăng cường quản lý đảng viên đi làm ăn xa, đảng viên ra nước ngoài, đảng viên làm việc ngoài khu vực nhà nước hoặc đảng viên về nghỉ hưu cư trú tại địa phương; thực hiện thủ tục giới thiệu, tiếp nhận chuyển sinh hoạt đảng đúng quy định. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2026, có 282 đảng viên từ ngoài tỉnh chuyển về tỉnh, 296 đảng viên chuyển sinh hoạt đảng ra ngoài tỉnh, 3.639 đảng viên chuyển sinh hoạt giữa các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy (trong tỉnh).

 Việc chuyển sinh hoạt đảng, cấp ủy giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng có phiếu báo cho cấp ủy nơi đảng viên chuyển đến sinh hoạt để nắm được thông tin quá trình di chuyển sinh hoạt đảng của đảng viên, bản thân đảng viên đã nêu cao ý thức trách nhiệm trong việc chuyển sinh họat Đảng.

Một số hạn chế, bất cập trong công tác quản lý đảng viên thời gian qua

(1) Một số chi bộ khó khăn về nguồn để bồi dưỡng kết nạp đảng viên; có một đảng viên sau khi được kết nạp đã thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không phát huy vai trò nêu gương của đảng viên, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật đã tới bị khai trừ ra khỏi đảng, bị thi hành kỷ luật, xóa tên trong danh sách đảng viên, cho ra khỏi đảng.

(2) Công tác quản lý chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức và lối sống của đảng viên là khâu khó nhất, vì mỗi đảng viên có các mối quan hệ công tác, mối quan hệ gia đình, xã hội khác nhau; môi trường công tác và làm việc đa dạng, phong phú, công tác nhỏ lẻ xa sự quản lý của cấp ủy, cơ quan đơn vị, đảng viên đi làm ăn xa… chịu mọi sự tác động từ yếu tố bên ngoài, dẫn tới có đảng viên vi phạm quy định của đảng, giảm sút ý chí tu dưỡng, rè luyện.

(3) Trong kiểm điểm, đánh giá, phân loại đảng viên hằng năm còn có đảng viên chưa thẳng thắn trong phê bình và phê bình, ở một số nơi chưa sâu, chưa khắc phục triệt để tình trạng nể nang, né tránh; một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn chỉ ra hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân, chưa gắn trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm cá nhân đối với những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Sau kiểm điểm, việc xây dựng kế hoạch khắc phục hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra còn chậm, vẫn còn có một số hạn chế, khuyết điểm chưa có kế hoạch, giải pháp khắc phục.

(4) Trong công tác quản lý hồ sơ và dữ liệu đảng viên

- Việc bổ sung tài liệu hồ sơ đảng viên và thông tin trong hồ sơ lý lịch đảng viên ở một số chi bộ chưa kịp thời, thường xuyên. Từ đó ảnh hướng đến tiến độ số hóa hồ sơ đảng viên cập nhật lên phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên 4.0.

- Không ít cấp ủy cơ sở, nhất là đối với những xã vùng sâu, vùng xa, xã biên giới, còn khó khăn về phương tiện như máy Scan để số hóa hồ sơ đảng viên; một số công chức của một số ban xây dựng đảng ở xã chưa thành thạo về công nghệ thông tin, chuyển đổi số nên tiến độ số hóa hồ sơ đảng viên chưa đạt tiến độ theo yêu cầu.

II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG

Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý đảng viên trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, khắc phục tồn tại, hạn chế và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, tỉnh Tuyên Quang tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, chi bộ thường quán triệt, thực hiện nghiêm túc các quy định, văn bản của Trung ương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và hướng dẫn của Ban Tổ chức Tỉnh ủy về công tác tổ chức đảng, đảng viên.

Các cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở, đảng ủy, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở thường xuyên nghiên cứu nắm vững mô hình tổ chức đảng được tổ chức đồng bộ theo đơn vị hành chính 2 cấp, đặc biệt là các đảng bộ, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở theo Quy định của trung ương[8] và các văn bản hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về nghiệp vụ công tác đảng viên; các quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng trong các loại hình. Từ các quy định, hướng dẫn của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các quy định, văn bản[9] để chỉ đạo cấp ủy trực thuộc đảng ủy cơ sở, chi bộ thống nhất việc ban hành quy chế làm việc, trong đó quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong công tác quản lý đảng viên, trách nhiệm, quyền hạn của đảng viên và việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã hành các văn bản[10] cụ thể hóa các văn bản của Trung ương về công tác tổ chức đảng, đảng viên để cấp ủy, chi bộ thống nhất, dễ thực hiện.

Thứ hai, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức chuyên môn thực hiện nhiệm vụ công tác tổ chức xây dựng đảng cấp ủy viên, bí thư chi bộ trong các loại hình tổ chức đảng có kiến thức, kỹ năng, cập nhật lý luận chính trị và nâng cao bản lĩnh chính trị, có khả năng ứng dụng và sử dụng thành thao tin học văn phòng, chuyển đổi số. Riêng đối với cấp ủy viên cấp xã phải thường xuyên trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ chi ủy viên, bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố chiếm số lượng nhiều nhất[11]; để người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (gồm bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng ban công tác mặt trận) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh địa bàn thôn, tổ dân phố rộng, dân cư đông, yêu cầu công việc ngày cao, từ đó đảng ủy cấp xã cần lựa chọn, giới thiệu người người cư trú tại thôn, tổ dân phố là người có trình độ chuyên môn, uy tín, sức khỏe, tâm huyết, trách nhiệm, năng lực vận động quần chúng nhân dân. 

Thứ ba, cụ thể hóa trách nhiệm của từng cấp ủy viên, tổ chức đảng trong việc quản lý đảng viên, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, xử lý nghiêm đối với các trường hợp buông lỏng quản lý, thiếu quyết tâm trong việc xử lý các vấn đề tồn đọng như: Chất lượng sinh hoạt không bảo đảm theo quy định, sinh hoạt qua loa, sinh hoạt lướt, không chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm quy chế làm việc…; những trường hợp chuyển sinh hoạt đảng kéo dài, quản lý hồ sơ đảng viên thiếu chặt chẽ, không khoa học dẫn tới hồ sơ đảng viên bị thất lạc, bổ sung không kịp thời, không đầy đủ, hồ sơ xuống cấp… trong số hóa hồ sơ đảng viên.

Thứ tư, tăng cường, mạnh dạnh giao nhiệm vụ cho đảng viên theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ sản phẩm, làm cơ sở để đánh giá chất lượng đảng viên đồng thời với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị, hướng tới đánh giá đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức (không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) hằng quý đồng bộ với đánh cán bộ, công chức, viên chức theo chỉ số KPI. Giao nhiệm vụ và đánh giá chất lượng đảng viên là hai nội dung cốt lõi trong quản lý đảng viên, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát và phát triển năng lực cá nhân trong tổ chức đảng. Thực hiện tốt công tác này góp phần phát huy trách nhiệm, tinh thần tiên phong, gương mẫu của từng đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời là cơ sở để sàng lọc, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng và kỷ luật đảng viên một cách khách quan, công tâm. Do đó, cần phải thiết lập hệ thống tiêu chí giao nhiệm vụ đảng viên rõ ràng, cụ thể, định lượng được; xây dựng bảng theo dõi nhiệm vụ và đánh giá đảng viên theo tháng/quý; kết hợp nhiều kênh thông tin để đánh giá chất lượng đảng viên một cách khách quan; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong đánh giá đảng viên; gắn kết quả đánh giá với công tác cán bộ và tuyên dương, khen thưởng; suy tôn những bí thư chi bộ, bí thư cấp xuất sắc ở cơ hằng năm theo kế hoạch của cấp ủy trên.

Thứ năm, xây dựng kênh tiếp nhận thông tin và giải quyết phản hồi hiệu quả, như:  (i) Xây dựng các kênh tiếp nhận thông tin, tố giác sai phạm của đảng viên một cách hiệu quả, bảo vệ người dám tố giác đảng viên vi phạm. Điều này giúp khuyến khích đảng viên và quần chúng mạnh dạn phản ánh sai phạm; (ii) công khai kết quả đánh giá đảng viên một cách đầy đủ; đồng thời xây dựng cơ chế để đảng viên có quyền phản hồi, kiến nghị hoặc được giải trình nếu không đồng tình với kết luận, từ đó tạo sự công bằng, dân chủ.

Thứ sáu, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với đảng viên. Đây là những công cụ quan trọng để Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo và quản lý đảng viên, bảo đảm nguyên tắc tổ chức, kỷ cương; đồng thời, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm, ý thức phấn đấu trong đội ngũ đảng viên. 

Thứ bẩy, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở nơi công tác và ở nơi cư trú trong công tác quản lý đảng viên, kịp thời nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; đồng thời, là kênh giám sát xã hội hiệu quả đối với cán bộ, đảng viên. Phát huy tốt vai trò của các tổ chức này sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả quản lý đảng viên, tăng tính minh bạch, dân chủ và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Thứ tám, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ bằng cách gắn nội dung sinh hoạt với các vấn đề thực tiễn, những nhiệm vụ cụ thể của địa phương, đơn vị. Đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin để duy trì kết nối với các đảng viên đi làm xa, bảo đảm đảng viên vẫn nắm bắt được thông tin và tham gia sinh hoạt một cách đầy đủ; phát huy được ý thức, trách nhiệm của đảng viên, giữ gìn tư cách đảng viên, thường xuyên giữ mối liên với cấp ủy chi bộ.

Công tác quản lý đảng viên đóng vai trò là nền tảng cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng, quyết định trực tiếp đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và sự trong sạch vững mạnh của toàn hệ thống chính trị; là điều kiện tiên quyết để giáo dục, rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và ý thức tổ chức kỷ luật cho từng đảng viên; Quản lý tốt giúp tổ chức đảng nắm chắc số lượng, chất lượng và diễn biến tư tưởng của đảng viên, bảo đảm kỷ cương và nguyên tắc Đảng, kịp thời ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đồng thời sàng lọc đảng viên. Thực hiện công tác quản lý đảng tốt trực tiếp củng cố sức mạnh của chi bộ, cấp ủy đảng: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đảng mạnh là do chi bộ mạnh, chi bộ mạnh là do đảng viên tốt”, bảo đảm cấp ủy, chi bộ đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị trong bối cảnh vận hành bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp trong tình hình mới.

                                                                                                            Đỗ Văn Ngọc, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tuyên Quang
 

[1] Báo cáo công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

[2] Ban Tổ chức Tỉnh ủy cập nhật số liệu thống kê hằng tháng báo cáo Ban Tổ chức Trung ương.

[3] Báo cáo công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

[4] Theo Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú.

[5] Báo cáo số 144-BC/TU, ngày 29/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang về việc thực hiện Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú.

[6] Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 12/11/2025 về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị của tỉnh; Công văn số 1105-CV/TU, ngày 10/6/2026 về việc thực hiện nội dung đánh giá hằng quý theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.  

[7] Ban Tổ chức Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 01-HD/BTCTU, ngày 21/11/2025 một số nội dung về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị của tỉnh. 

[8] Quy định số 208-QĐ/TW, ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thi hành Điều lệ Đảng; Hướng dẫn số 02-HD/TW, ngày 07/8/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng

[9] Kế hoạch số 36-KH/TU, ngày 28/8/2025 thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới; Quy định số 15-QĐ/TU, ngày 02/12/2025 về việc đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ; Quy định số 18-QĐ/TU, ngày 19/12/2025 về tiêu chí đánh giá thực hiện mô hình "chi bộ bốn tốt", "đảng bộ cơ sở bốn tốt"; Quyết định số 33-QĐ/TU, ngày 23/10/2025 về ban hành Quy chế làm việc mẫu của ban chấp hành đảng bộ cơ sở, chi bộ; Quyết định số 643-QĐ/TU, ngày 25/6/2026 về ban bành quy chế làm việc mẫu của chi bộ thôn, tổ dân phố; Công văn số 1641-CV/TU, ngày 21/9/2026 về việc triển khai một số mô hình tổ chức Đảng theo Quy định số 208-QĐ/TW. 

[10] Hướng dẫn số 04-HD/BTCTU, ngày 06/11/2025 xây dựng quy chế làm việc của đảng ủy ơ sở, đảng ủy bộ phận và chi bộ; Hướng dẫn số 06-HD/BTCTU, ngày 23/6/2026 một số nội dung về tổ chức và hoạt động của chi bộ; Hướng dẫn số 08-HD/BTCTU, ngày 03/8/2026 một số nội dung về sắp xếp tổ chức đảng ở cơ sở giáo dục công lập; Công văn số 322-CV/BTCTU, ngày 03/11/2025 về việc sử dụng tài liệu và biểu mẫu thống kê về công tác đảng viên.

[11] Trước sắp xếp, toàn tỉnh có 3.802 thôn, tổ dân phố, sau sắp xếp, tổ chức lại thành 1.805 thôn, tổ dân phố; tổng số ủy iên ban chấp chi bộ thôn, tỏ dân phố là 8.717 Ủy viên. 


Tin liên quan

Đang tải dữ liệu…

Dự báo theo tọa độ TP. Tuyên Quang — nguồn Open-Meteo

Đang online
5
Hôm nay
143
Hôm qua
716
Tuần này
859
Tháng này
36.141
Tổng tất cả
5.190.961
⇧
Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030
⇧